LÀNG NGHỀ LÀM NÓN LÁ Ở HUẾ

Từ lâu chiếc nón bài thơ gắn với tà áo dài đã trở thành biểu tượng của con người và du lịch Huế. Để mục sở thị những chiếc nón lá thân thương và tìm hiểu thêm về văn hóa, con người xứ Huế, bạn nên ghé thăm làng nghề làm nón nơi đây.

Nghề làm nón lá đã xuất hiện ở Huế hàng trăm năm nay với nhiều làng nón như Dạ Lê, Phú Cam, Đốc Sơ, Triều Tây, Kim Long, Sịa… Trong đó Tây Hồ là cái tên nổi bật nhất bởi đây chính là nơi xuất xứ của chiếc nón bài thơ nổi tiếng. Làng nón Tây Hồ tọa lạc bên bờ sông Như Ý, xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, cách thành phố Huế chừng 12 km.

quan-luu-niem-JPG-1673-1379931277.jpg
Đừng quên mua chiếc nón lá làm quà khi đến Huế. Ảnh: dulichvietnam.

Một chiếc nón lá đơn sơ, mộc mạc tưởng chừng như rất đơn giản nhưng khi đến đây bạn sẽ hiểu thêm sự vất vả, kỳ công cũng như khéo léo của những đôi bàn tay chân chất. Người làm phải thực hiện khoảng 15 công đoạn từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ… để có một chiếc nón bài thơ vừa nhẹ vừa đẹp.

Lá non của cây Bồ Qui Diệp sau khi hái trên rừng đem về phơi sương rồi nức vàng và ủi cho phẳng. Tiếp theo là chuẩn bị khung chóp từ 16 nan tre vót nhỏ để chằm. Đến đây bạn sẽ bắt gặp hình ảnh những cô thiếu nữ đang tuổi trăng rằm tự học chằm nón. Điều làm nên thương hiệu nón Huế chính nằm ở khâu chằm. Nón Huế bao giờ cũng được làm từ hai lớp, người thợ phải khéo léo để khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp, giúp nón mỏng và thanh. Sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền.

dulichvietnam-JPG-9488-1379931277.jpg
Nghề làm nón quen thuộc với người dân Tây Hồ, Huế hàng trăm năm nay. Ảnh: dulichvietnam.

Ở Tây Hồ không chỉ phụ nữ biết chằm nón mà ngay cả những người đàn ông cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung. Ban đầu, nón bài thơ chủ yếu được làm để tặng người thân, nhưng sau được nhiều du khách yêu thích bởi những thắng cảnh, câu thơ ép giữa 2 lớp lá vô tình đã trở thành món quà lưu niệm không thể thiếu mỗi khi đến Huế. Ngày nay để làm đẹp thêm cho chiếc nón, những người thợ làm nghề còn ép vào đó cả tranh về sông Hương, núi Ngự cạnh bài thơ.

Khi muốn mua những chiếc nón sông Hương chính hiệu, khách du lịch không tới Tây Hồ mà thường tìm đến chợ Dạ Lệ, xã Thủy Văn, huyện Hương Thủy. Mặc dù ở Huế, chợ nào cũng bán nón, từ các chợ lớn như Đông Ba, An Cựu, Bến Ngự… đến các chợ nhỏ như Sịa, Phò Trạch, nhưng chợ Dạ Lê lại là cái tên hút khách hơn cả bởi nơi đây bán mặt hàng duy nhất là nón.

ione-JPG-1773-1379931280.jpg
Nón bài thơ đã trở thành biểu tượng cho người con gái Huế. Ảnh: ione.net.

Không chỉ bán sản phẩm các vùng, chợ còn bán nón do chính tay những người con Dạ Lê làm ra. So với nón Tây Hồ, nón Dạ Lê không hề thua kém với màu nón trắng tinh, thanh nhã với đường kim, mũi chỉ được trau chuốt công phu.

Ngoài bán nón, chợ Dạ Lê còn bán cả các nguyên liệu cần thiết cho nghề chằm nón như lá nón, kim chỉ, vành, khuôn nón. Chợ không ồn ã, đông đúc mà nề nếp với phong cách bán mua bình dị. Dạo một vòng quanh chợ tìm mua chiếc nón, bạn còn cảm nhận được phong cách sống mộc mạc của người dân.

Theo: https://vnexpress.net

Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn năm

Nói đến làng dệt tơ lụa đẹp và nổi tiếng tại Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến cái tên làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông với những đường thêu chỉ và mẫu hoa văn tinh tế.

Làng lụa Vạn Phúc Hà Đông là 1 trong những làng nghề dệt lụa nổi tiếng bậc nhất Việt Nam. Đây là làng nghề dệt lụa truyền thống đã được công nhận là kỷ lục “Làng nghề dệt lụa tơ tằm lâu đời nhất vẫn còn duy trì hoạt động đến ngày nay” do Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã trao tặng. Hơn nữa, làng lụa Hà Đông cũng là 1 điểm đến hấp dẫn cả du khách trong và ngoài nước.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămLàng lụa Hà Đông cũng là 1 điểm đến hấp dẫn cả du khách trong và ngoài nước

Làng lụa Vạn Phúc Hà Đông ở đâu?

Làng dệt lụa Vạn Phúc còn có tên gọi khác là làng dệt lụa Hà Đông thuộc phường Vạn Phúc – Hà Đông – Hà Nội. Vốn tồn tại hơn 1000 năm, làng tơ lụa Vạn Phúc là 1 trong những làng dệt lụa đẹp nhất ở Việt Nam.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămCổng làng Vạn Phúc. Ảnh: Traveloka

Từ trung tâm Hà Nội, để đến thăm làng lụa Vạn Phúc bạn đi qua đường Nguyễn Trãi tới bưu điện Hà Đông rồi sau đó rẽ phải; hoặc bạn có thể đi theo tuyến đường Lê Văn Lương – Tố Hữu. Tuy quá trình đô thị hóa hiện nay đang diễn ra rất nhanh chóng, thế nhưng làng lụa Vạn Phúc Hà Đông vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính vốn có của nó.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămChị chị em em rủ nhau mặc áo dài truyền thống chụp ảnh check – in tại làng lụa Vạn Phúc. Ảnh: VTV

Làng lụa Vạn Phúc Hà Đông ra đời từ bao giờ?

Làng lụa Vạn Phúc trước kia có tên gọi khác là Vạn Bảo. Do kị húy nhà Nguyễn nên làng đã được đổi tên thành Vạn Phúc. Năm 1931, lần đầu tiên lụa Vạn Phúc Hà Đông đã được quảng bá ra thị trường quốc tế tại hội chợ Marseille và đã được người Pháp đánh giá là 1 trong những dòng lụa tinh xảo, đẹp nhất của vùng Đông Dương. Đến năm 1958, tơ lụa Vạn Phúc đã được xuất sang những nước Đông Âu và cho đến nay lụa Hà Đông được ưa chuộng tại nhiều nước trên thế giới.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămCác gian hàng tại làng lụa Hà Đông thu hút du khách đến thăm. Ảnh: Phương Linh

Qua dòng thời gian, lụa Vạn Phúc vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của nó. Và hiện nay, lụa Vạn Phúc đang đi đầu trong ngành dệt Việt Nam. Tơ lụa Vạn Phúc luôn được đánh giá là đẹp bền. Bởi hoa văn trên lụa đa dạng, trang trí cân xứng, đường nét thanh thoát, giản đơn mang đến sự dứt khoát, phóng khoáng cho người xem.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămLàng lụa Vạn Phúc Hà Đông ra đời từ bao giờ? Ảnh: Phương Linh

Quy trình sản xuất tơ lụa của làng nghề lụa Vạn Phúc
 

B1: Trồng dâu nuôi tằm

Đây là công đoạn đầu tiên và cực kỳ quan trọng để chúng ta bắt đầu tạo ra những tấm lụa Vạn Phúc đẹp hoàn hảo. Về chất lượng của tơ sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình chăm nuôi tằm. Thế nên, nghề nuôi tằm vô cùng vất vả, phải theo dõi thường xuyên. Khi tằm lớn lên, người nuôi phải làm né để tằm nhả tơ, tạo kén. Khi tằm tạo kén thì nghệ nhân sẽ lựa chọn kén để chuẩn bị cho việc tiếp theo là lấy tơ.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămKén tằm: Ảnh: Tơ Lụa Việt Nam

B2: Lấy tơ

Sau khi tằm nhả tơ, đóng kén. Lúc này các nghệ nhân tiếp tục chọn những tổ kén già có chất lượng tốt để tiến hành kéo kén hay còn gọi là kéo các sợi tơ từ kén ra khỏi con tằm. Trước đây, công đoạn này sẽ làm thủ công bằng tay thì nay nó được làm từ máy móc.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămNghệ nhân lấy tơ. Ảnh: Tơ lụa Việt Nam

Xong công đoạn kéo kén thì những sợi tơ dài sẽ được nghệ nhân chuốt thẳng rồi bước vào công đoạn guồng tơ. Đây chính là công đoạn làm thủ công để tránh bị rối tơ khi cho vào guồng.

B3: Chuẩn bị dệt lụa

Sau khi cho tơ vào guồng thì đầu sợi tơ sẽ được kéo ra các lõi nhỏ để tiến hành mắc cửi và nối cửi để hệ thống các sợi tơ đưa vào máy dệt. Và lúc này, nghệ nhân phải túc trực 24/24 để phát hiện ra lỗi hoặc tiếp sợi tơ khi cần.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămVải lụa sau khi dệt xong. Ảnh: Tơ lụa Việt Nam

Những tấm lụa thô sau khi được dệt xong sẽ hiện rõ những hoa văn trên đó. Theo nghệ nhân làng lụa Vạn Phúc cho hay thì hoa văn này được đồ họa sẵn ở trên máy theo mẫu, hoặc theo đơn của khách. Và khi dệt ra sẽ ra luôn chứ không phải hoa văn thêu như mặt hàng nhái. Sau khoảng 2 đến 3 ngày dệt, thì ống lụa dài được khoảng 45 – 50m và sẽ được tháo dỡ và mang đi nhuộm.

B4: Nhuộm vải

Trước khi nhuộm, lụa Vạn Phúc phải được mang đi nấu tẩy để tẩy bỏ những tạp chất. Để cho tấm lụa đẹp hơn thì công đoạn nhuộm vô cùng quan trọng đặc biệt là khâu pha chế thuốc nhuộm theo tỉ lệ hợp lý.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămNhuộm vải. Ảnh: Tơ lụa Việt Nam

Lụa nhuộm xong sẽ được đem đi giặt. Rồi sau đó sẽ được những nghệ nhân thực hiện công đoạn sấy lụa. Trước đây, nếu điều kiện thời tiết thuận lợi, có nhiều không gian thì lụa được nhuộm xong mang ra phơi dưới ánh nắng mặt trời. Lụa sấy xong sẽ cho lên màu theo đúng như lúc nhuộm, các cây lụa sau đó sẽ được trưng bày hoặc giao cho các đại lý chuyên về tơ lụa.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămVải lụa sau khi nhuộm xong. Ảnh: Tơ lụa Việt Nam

  GỢI Ý TOUR DU LỊCH HÀ NỘI KHUYẾN MÃI 
  >> Hà Nội – City Tour 1N Trọn Gói Giá 590.000VNĐ/Khách
  >> HCM – Hà Nội – Hạ Long – Sapa – Ninh Bình 5N4 Giá 6.990.000VNĐ/Khách

Làng lụa Vạn Phúc ngày nay

Ngày nay, làng lụa Vạn Phúc đã biến tấu trở nên vô cùng đa dạng với nhiều mẫu mã, chủng loại khác nhau: mây bay, long phượng, đũi hoa, vân thọ đỉnh, tứ quế…Hình dạng hoa văn trên lụa đã được thể hiện dưới đôi tay điêu luyện và óc nhìn tinh tế, sáng tạo của người nghệ nhân lụa Vạn Phúc. Nhờ thế, những sản phẩm lụa mới phong phú, độc đáo và tính thẩm mỹ cao đến như vậy. Với những đặc tính nổi bật, thế nên, lụa Hà Đông luôn được chọn làm quà tặng cho người thân và bạn bè khi du khách về đây.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămLụa Hà Đông luôn được chọn làm quà tặng cho người thân và bạn bè. Ảnh: Phương Linh

Hiện nay, lụa Vạn Phúc Hà Đông có gần 800 hộ gia đình làm nghề dệt lụa, chiếm gần 60% trên tổng số hộ sinh sống tại nơi đây. Mỗi năm, làng tơ lụa Vạn Phúc Hà Đông đã sản xuất khoảng 2,5 đến 3 triệu mét vuông vải, tương đương với 63% doanh thu của toàn bộ làng nghề.

Làng lụa Vạn Phúc Hà Đông có gì đặc biệt?

Điều đặc biệt khi du khách đến khám phá làng lụa Vạn Phúc Hà Đông, chắc hẳn ai trong số chúng ta cũng bị mê hoặc bởi con đường ô Vạn Phúc đa sắc màu rực rỡ. Chính sự trang trí bắt mắt, độc đáo từ những chiếc ô nhiều màu sắc đã mang đến khung cảnh ấn tượng, giúp du khách tha hồ được check in những bức hình đẹp mắt khi đến nơi đây.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămCon đường ô Vạn Phúc rực sắc màu. Ảnh: VTVLàng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămCác bạn trẻ thi nhau check in. Ảnh: VTVLàng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămCon đường ô Vạn Phúc về đêm đẹp lung linh. Ảnh: VTV

Bên cạnh con đường ô rực rỡ sắc màu, làng lụa Vạn Phúc còn có 1 địa điểm check-in cực “hot” đó là bức tường bích họa. Bức tường bích họa lớn đã được các cô giáo trường mầm non Vạn Phúc tái hiện về làng nghề lụa Vạn Phúc ở khu vực trung tâm mà nhiều bạn trẻ đến đây nhất định phải chụp hình làm kỷ niệm.Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămĐiểm check in thu hút giới trẻ tại làng lụa Vạn Phúc Hà Nội. Làng lụa Vạn Phúc và nét đẹp văn hóa truyền thống từ hàng nghìn nămCác em bé trường mầm non cũng ghi lại hình ảnh dễ thương bên bức tường bích họa. Ảnh: VTV

Khép lại chuyến hành trình khám phá làng nghề truyền thống Vạn Phúc, chắc chắn du khách sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời về nghề làm tơ lụa Vạn Phúc cùng với nghệ nhân nơi đây. Nếu bạn yêu thích và muốn tìm hiểu nét đẹp văn hóa Hà Nội về nghề dệt tơ lụa thì làng lụa Vạn Phúc chính là điểm đến thú vị dành cho du khách đấy nhé.

Sống mãi với nghề xưa: Làng trống Đọi Tam

Họ là những nghệ nhân, người thợ, thành viên trong một dòng tộc đã gìn giữ nghề truyền thống suốt hàng trăm năm qua.

Đội trống gái Đọi Tam biểu diễn trong lễ hội Tịch điền 2014 - Ảnh: Bà Lê Thị Thanh cung cấpĐội trống gái Đọi Tam biểu diễn trong lễ hội Tịch điền 2014 – Ảnh: Bà Lê Thị Thanh cung cấp

Lịch sử trăm nămChưa có tư liệu lịch sử nào khẳng định số tuổi chính xác của làng trống Đọi Tam (xã Đọi Sơn, H.Duy Tiên, Hà Nam). Tuy nhiên, các bậc cao niên trong làng cho biết gia phả suốt mấy trăm năm qua của các dòng họ đều ghi rõ làng có nghề làm trống cha truyền con nối. Đời nào cũng có những thợ cả nổi tiếng mang danh trống Đọi Tam đi khắp các vùng miền.Làng Đọi Tam có 350 hộ thì cả 350 hộ đều theo nghề làm trống. Ông Lê Ngọc Hùng, một nghệ nhân và cũng là chủ cơ sở sản xuất trống lớn nhất, nhì Đọi Tam cho biết từ đầu năm, cơ sở của ông đã xuất vài nghìn quả trống các loại. Tính cả thôn lên tới vài trăm nghìn quả. Chỉ riêng dịp Tết âm lịch này, cơ sở của ông Hùng đã nhận đơn đặt hàng tới gần 1.000 quả.Nói về bí quyết thành công của nghề trống Đọi Tam, ông Hùng cho biết: Vẫn chỉ có 2 nguyên liệu chính là gỗ mít và da trâu, nhưng người tinh tường sẽ nhận ra tiếng trống Đọi Tam có âm vực riêng. Nhất là tiếng trống cái, trống hội bao giờ cũng trầm hùng, vang dội hơn nơi khác sản xuất. Đấy chính là công thức, bí quyết được tích lũy suốt mấy trăm năm và chỉ truyền trong làng, trong họ.Còn theo ông Lê Văn Xuân, cũng là một thợ giỏi trong làng, để có được chiếc trống tốt, người Đọi Tam cẩn thận đến mức chi li trong khâu chọn nguyên liệu. Gỗ phải là loại gỗ mít già, có độ cong theo đúng yêu cầu từng loại trống. Da trâu phải già, được nạo sạch mặt, sau đó căng, phơi rồi sấy và cắt thành mặt trống để dai, không mục, mủn. Nhưng để có được tiếng trống như ý thì phụ thuộc vào tay nghề của người làm, vì mỗi loại có yêu cầu về âm thanh khác nhau, như độ vang, rền và độ đanh. Ví dụ nếu trống trường âm thanh phải vang, rền còn trống chèo lại đòi hỏi âm thanh trầm lắng hơn… Mỗi loại âm thanh của trống được tạo ra từ thao tác chính xác đến tuyệt đối của người thợ trong việc xử lý nguyên liệu, từ khâu chế tác, xếp tang (khung gỗ), đến chọn và xử lý da trâu, căng da, đóng đinh. Thậm chí, việc đánh bóng và vẽ hoa văn trên mặt trống, tang trống của Đọi Tam cũng có bí quyết riêng. “Bởi vậy, 350 hộ với cả nghìn người làng này làm, nhưng chỉ có một số ít người dám nhận làm trống lớn, trống trường, trống hội, là những loại đòi hỏi phải có tay nghề cao”, ông Xuân tiết lộ. 

Sơn, vẽ hoa văn để hoàn thiện trống - Ảnh: Hoàng Long
Sơn, vẽ hoa văn để hoàn thiện trống – Ảnh: Hoàng Long

Đội trống gái Đọi TamLàng trống Đọi Tam từ xưa không truyền nghề cho con rể và con gái vì sợ bị lộ bí mật ra ngoài. Tuy nhiên, đến nay người Đọi Tam đã cho phép truyền nghề cho phụ nữ. Bà Lê Thị Thanh, vợ nghệ nhân Lê Thế Hùng đã có gần 30 năm làm nghề và được người làng xếp vào hàng “cao thủ”. Tại Đọi Tam có hơn 80 phụ nữ làm nghề trống. Không chỉ truyền nghề cho nữ giới, Đọi Tam còn có đội trống gái, toàn phụ nữ, có một không hai ở VN hiện nay.Ông Lê Ngọc Minh, Trưởng thôn Đọi Tam, cho biết: “Năm 2004 làng Đọi Tam thành lập đội trống với các tay trống đều là phụ nữ và lấy tên là Đội trống gái Đọi Tam. Mất gần 2 năm mới ổn định được đội hình và có thể biểu diễn được”. Đội trống có 48 người, đánh nhiều loại trống, trong đó chiếc lớn nhất cao 1,77 m, đường kính mặt 1,47 m, chiếc trống đại cao 1,2 m, đường kính mặt 1,8 m, 12 chiếc trống cám, 12 chiếc trống nhỡ, 12 chiếc bản, 8 chiếc trống giả cổ.Điểm đặc biệt là để được tham gia đội trống nữ của làng, ngoài việc có năng khiếu về nhạc và có thể hình tốt thì bắt buộc là phụ nữ đã có chồng. “Chúng tôi muốn duy trì đội trống lâu dài, sợ sau này khi xây dựng gia đình thì đội trống sẽ mất người nên phải quy định như vậy”, ông Minh lý giải.Sau 10 năm thành lập, đến nay đội trống làng đã tăng lên 60 người. Số tay trống vẫn giữ nguyên là 48 phụ nữ, thêm 12 nam phụ đánh đồ đồng (chiêng, lệnh, thanh la, nạo bạt…). Đội trống gái Đọi Tam không chỉ phục vụ các lễ hội ở địa phương mà còn tham gia biểu diễn trên tất cả mọi miền của Tổ quốc.

Làng tranh Đông Hồ: Xưa và Nay

Làng Đông Hồ xưa kia còn có tên làng Mái, nay thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, vốn nổi tiếng với nghề làm tranh khắc gỗ dân gian. Tranh Đông Hồ chủ yếu bán nhiều vào dịp Tết Nguyên đán, người dân mua về treo tường để trang trí nhà cửa chơi Tết. Những năm gần đây, tranh khắc gỗ dần bị mai một, làng tranh Đông Hồ đã thành làng… “hàng mã”.

Thời vàng son

Tranh Đông Hồ, tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, một dòng tranh dân gian Việt Nam. Người dân Đông Hồ sản xuất tranh bằng phương pháp thủ công từ việc làm giấy đến các bản khắc từ thế kỷ 16 và đến nay vẫn giữ được truyền thống này. Giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ 18 đến năm 1944 là thời cực thịnh của làng tranh, với 17 dòng họ đều tham gia làm tranh. Làng Đông Hồ có chợ tranh tấp nập dịp tháng Chạp (tháng 12 Âm lịch) với 5 phiên chợ vào các ngày 6, 11, 16, 21, 26. Trong mỗi phiên chợ có hàng nghìn, hàng triệu bức tranh các loại được mang ra bán cho lái buôn, hoặc bán lẻ cho các gia đình mua về làm tranh treo Tết để mang phú quý, vinh hoa cho nhà mình. Sau phiên chợ tranh cuối cùng (26/12 Âm lịch) những gia đình nào còn lại tranh đều bọc kín đem cất chờ đến mùa tranh năm sau mang ra chợ bán.

Tranh Đông Hồ không vẽ theo cảm hứng mà in theo các bản khắc gỗ. Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp, người làm nghề nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn, (hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó.

Chổi lá thông tạo nên những đường gân chạy theo vết quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp. Màu sắc sử dụng trong tranh Đông Hồ là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe), đỏ (sỏi son, gỗ vang)… Đây là những màu khá cơ bản, không pha trộn và vì số lượng màu tương ứng với số bản khắc gỗ, nên thường tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4 màu.

Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi… Trước khi in, giấy được bồi điệp làm nền, chất điệp óng ánh tạo nên chất liệu riêng biệt của tranh dân gian Đông Hồ. Sau khi in thành tranh, kể cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia có sự hài hòa tự nhiên.

Tranh Đông Hồ có đến 180 chủ đề, đề tài được phân thành 5 loại: Tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt và tranh bộ theo tích truyện. Đề tài của tranh được lấy từ đời sống, sinh hoạt sản xuất của người nông dân hay xuất phát từ triết lý phồn thực nhưng bình dị và gần gũi với sinh hoạt đời thường. Nội dung của tranh có thể là những nhân vật trong truyền thuyết, những cảnh đẹp của đất nước, đến những bức tranh với mong muốn cuộc sống hạnh phúc, ấm no, mùa màng bội thu, chăn nuôi hiệu quả.

Pha bột màu.

Nỗi buồn của làng tranh

Trong chiến tranh, làng tranh Đông Hồ cũng bị chiến tranh tàn phá. Người dân mải lo chạy giặc. Hàng vạn bản khắc gỗ làm tranh bị thiêu rụi. Để khôi phục làng tranh, năm 1967, nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam đã cùng 50 thợ cả trong làng thành lập “Hợp tác xã sản xuất tranh”. Làng tranh dần được phục hồi và đã xuất khẩu đi nước ngoài. Tuy nhiên, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, làng tranh suy tàn. Tranh làm ra nhưng không bán được, nên người dân không còn mặn mà, tâm huyết với nghề tranh nữa, họ chuyển sang làm hàng mã.

Đến Đông Hồ bây giờ không còn cảnh chợ tranh sầm uất, muôn màu giấy điệp phơi trên sào nứa ngoài sân đất, thay vào đó là sắc màu hàng mã rực rỡ. Làng Đông Hồ bây giờ toàn nhà cao cửa rộng, xe tải lớn nhỏ đậu quanh nhà, mái tôn quây kín từ tường lên nóc để tránh mưa, ướt đồ dùng cho người cõi âm như nhà cửa, quần áo,  ngựa, ti vi, tủ lạnh… đến các phương tiện giao thông hiện đại như xe máy, ô tô.

Chị Nguyễn Thị Hương, một trong những chủ hộ sản xuất vàng mã với số lượng lớn cho biết: “Trước đây gia đình cũng làm tranh Đông Hồ, tuy nhiên mấy chục năm lại đây tranh bán được rất ít, khách du lịch cũng thưa dần, nên lúc đầu chúng tôi kết hợp cả làm hàng mã theo nhu cầu thị trường, dần về sau khách đặt hàng mã nhiều hơn nên chúng tôi chuyển hẳn qua hàng mã. Kinh tế của làng cũng khá hơn”.

Tranh Đông Hồ có giá trị văn hóa, lịch sử.

Là nghệ nhân đời thứ 20 theo nghiệp tranh của gia đình, năm 2007 nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế thuê mảnh đất bên bờ sông Đuống để xây dựng Trung tâm văn hóa dân gian truyền thống, đưa “xưởng tranh” trở thành điểm du lịch quen thuộc của nhiều đoàn khách tham quan trong và ngoài nước. Số bản khắc ông dày công sưu tầm, phục chế, sáng tác ngày một nhiều và phong phú thêm; đến nay gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã có hơn 1.000 bản khắc gỗ, trong đó 20 loại tranh mới vẽ, như: Bác Hồ với thiếu nhi, Bắt phi công Mỹ, Đào mương chống hạn… Tuy đã để người con trai lập phòng tranh ở Hà Nội, mở rộng thị trường tiêu thụ, song nghệ nhân Chế không khỏi lo lắng trước nguy cơ mai một của dòng tranh…

Hiện làng Đông Hồ chỉ còn hai nhà làm tranh, đó là gia đình cố nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam và Nguyễn Đăng Chế vẫn theo nghề truyền thống.

Là nữ nghệ nhân duy nhất của làng tranh Đông Hồ, bà Nguyễn Thị Oanh – con dâu của cố nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam cho biết, dù bây giờ đến với chợ tranh Đông Hồ, người ta không còn được thấy cảnh tấp nập bán mua, cũng không còn cảnh người người, nhà nhà ưa chuộng tranh Đông Hồ như xưa. Nhưng trong ký ức của những người dân làng Đông Hồ dường như điều đó vẫn còn đọng lại trong tâm trí họ. Người già thì kể lại cho thế hệ con cháu nghe để biết, người trẻ thì hào hứng nghe bố mẹ, ông bà nói về thời xa xưa, để rồi tự nhận thấy bản thân cũng có phần trách nhiệm trong việc bảo tồn và gìn giữ nghề tranh.

Những năm qua, tỉnh Bắc Ninh đã cố gắng bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa của tranh dân gian Đông Hồ. Từ năm 2014, tỉnh đã phê duyệt đề án “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tranh dân gian Đông Hồ giai đoạn 2014 – 2020, định hướng đến năm 2030”; nhằm xác định hiện trạng và nguy cơ mai một; đồng thời nâng cao nhận thức, hành động của chính quyền và nhân dân địa phương trong việc bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa của tranh dân gian Đông Hồ. Bên cạnh đó, Bắc Ninh khuyến khích các doanh nghiệp chú trọng đẩy mạnh tour du lịch về Thuận Thành, tuyến chùa Dâu – chùa Bút Tháp – làng tranh Đông Hồ và hoạt động quảng bá tranh tới các trường học, thị trường quốc tế…

Tháng 3/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt đề cương chi tiết xây dựng hồ sơ ứng cử quốc gia đề nghị UNESCO đưa nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp và Bộ VH-TT& DL đã có văn bản đồng ý với đề xuất của tỉnh. Người Đông Hồ nói riêng và người yêu tranh Đông Hồ nói chung hy vọng và chờ đợi sự hồi sinh, tỏa sáng trở lại của một dòng tranh dân gian đặc sắc.

Tinh Hoa Nghệ Thuật Việt Nam Qua Những Làng Nghề Truyền Thống – Kỳ 1

1. LÀNG NGHỀ ĐIÊU KHẮC MỸ NGHỆ SƠN ĐỒNG

Làng nghề điêu khắc Sơn Đồng đã có mặt ở huyện Hoài Đức, Hà Nội cách nay hàng trăm năm, với nhiều sản phẩm điêu khắc từ gỗ đạt trình độ công phu nghệ thuật cao như tượng Phật, đồ dùng gỗ chạm trỗ tinh xảo,…

Đặc biệt kỹ thuật sơn son thếp vàng tinh xảo chỉ có duy nhất tại Sơn Đồng, với nghề truyền thống là tạc, chạm, khắc và sơn tô tượng để tạo ra những sản phẩm nổi tiếng trong cả nước như tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt; tượng ông Thiện, ông ác, tượng các vị La Hán, kiệu bát cống…

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Điêu khắc là nghề đòi hỏi kỹ thuật cao cùng với nghệ thuật thẩm mỹ tinh xảo. – Ảnh: 117 Imagery

Nguyên liệu để tạc tượng là gỗ mít. Theo quan niệm dân gian, mít là loại gỗ “thiêng” thích hợp cho việc chế tác đồ thờ cúng. Gỗ mít có đặc tính dẻo, mềm, thớ dăm, nên có độ bền cao, ít nứt nẻ, dễ gọt, tránh được những sơ suất khi đục đẽo.

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Từ đục tách một khối gỗ để ra một pho tượng là quá trình sáng tạo rất bền bỉ.  – Ảnh: 117 Imagery

Đối với các nghệ nhân lâu năm để có được những sản phẩm độc đáo tinh khôi, người thợ điêu khắc nên pho tượng nào đó yêu cầu phải có tâm đức, tâm hồn trong sáng và tâm linh. Người nghệ nhân điêu khắc phải hiểu được cội nguồn sâu xa của từng sản phẩm mà mình tạo ra, hiểu từng phẩm chất linh hồn của vị Phật, vị Thánh được tạc để nhân dân tôn thờ…

2. LÀNG THÊU TAY QUẤT ĐỘNG

Nghề thêu có ở nhiều địa phương, nhưng đạt đến trình độ tinh xảo và kỹ thuật điêu luyện thì không đâu bằng nghệ nhân làng Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội. Từ thế kỷ 17 làng thêu tay Quất Động đã xuất hiện, những nghệ nhân bằng đôi bàn tay khéo léo đã chắt lọc những gì tinh túy nhất của hồn dân tộc để tạo nên những tác phẩm rực rỡ, sinh động tô đẹp cho đời.

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Nghệ nhân cao tuổi đang chăm chú cho tác phẩm thêu. – Ảnh: Le Bich

Ông tổ nghề thêu Quất Động cũng như nghề thêu chung của ba miền bắc trung nam là tiến sĩ Lê Công Hành, tên thật là Bùi Công Hành sống vào khoảng thế kỷ 14. Chỉ bằng một cây kim, một sợi chỉ, một miếng vải người thợ thêu Quất Động có thể làm ra những mảng hoa văn mềm mại, đan xen kỳ lạ không nghệ thuật nào làm được.

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Một tác phẩm thêu ren ở Quất Động. – Ảnh: Dulichvietnam

Các nghệ nhân thêu làng Quất Động đã cho ra đời rất nhiều sản phẩm thêu truyền thống như: câu đối, nghi môn, lọng, cờ, trướng, khăn trải bàn, các loại trang phục sân khấu cổ truyền… đến những bức tranh thêu phong cảnh, chân dung như nhà sàn Bác Hồ, chùa Một Cột…

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Làng nghề Quất Động gồm nhiều sản phẩm thêu truyền thống. – Ảnh: Vnecdn

3. LÀNG QUẠT CHÀNG SƠN

Làng Chàng Sơn vốn là một làng nghề truyền thống nổi tiếng hàng trăm năm nay thuộc xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Từ thế kỷ 19, quạt Chàng Sơn đã nổi tiếng trong và ngoài nước, trong những năm thuộc Pháp người Pháp đã từng nhiều lần mang quạt Chàng Sơn vượt đại dương xa xôi sang Paris triển lãm.

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Đủ loại quạt ở làng quạt chàng Sơn: Quạt giấy, quạt nan, quạt the, quạt lụa, quạt tranh.. – Ảnh: Xomnhiepanh

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Ngay cả đứa bé cũng là một nghệ nhân làm quạt. – Ảnh: Xomnhiepanh

Đã từ xa xưa người Việt Nam đã quen với chiếc quạt giấy cầm tay quạt phạch phạch mỗi khi ngày hè nóng oi ả khi không có quạt điện, quạt máy như bây giờ và dù vậy chiếc quạt giấy vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống thường nhật, thầm lặng và dẻo dai như như một mạch ngầm chưa bao giờ tắt.

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Chiếc quạt với họa tiết sắc xảo Hồ Gươm và cầu Thê Húc. – Ảnh: Vatgia

Cho dù là treo tường hay cầm tay thì từ chiếc quạt vẫn toát lên một vẻ đẹp mềm mại, quyến rũ từ những họa tiết, hình ảnh giữa chiếc quạt. Chiếc quạt càng ấn tượng hơn bởi chất liệu the tơ óng ánh màu hoàng tộc, các vân sáng lung linh tự nhiên hòa quyện với các họa tiết được trạm trổ phía trên

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Chiếc quạt còn được dùng trong các tiết mục múa. – Ảnh: Flickr

Du khách đến vùng quê sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh những cụ già ngồi phe phẩy chiếc quạt giấy dưới bóng cây râm mát cạnh ngồi thưởng thức chén trà làm bao hồi ức một thời thơ ấu nơi làng quê thanh bình, yên ả, thấy lòng mát rượi bởi có chiếc quạt thân quen.

4. RỰC RỠ SẮC MÀU LÀNG GỐM BÁT TRÀNG

Làng gốm Bát Tràng, Hà Nội Một ngôi làng cổ có khoảng 500 tuổi thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Đây được biết đến là một nơi sản xuất các đồ gốm có chất lượng cao với những hình ảnh hoa văn trên sản phẩm mang đậm văn hoá, phong tục của người Việt.

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Một nghệ nhân ở Bát Tràng đang chế tác sản phẩm. – Ảnh: Anh Huy

Tinh hoa nghệ thuật Việt Nam qua những làng nghề truyền thống (Kỳ 1)Chuẩn bị vào lò. – Ảnh: Hai Nguyen Tuan

Hầu hết, các sản phẩm gốm Bát Tràng được sản xuất hoàn toàn bằng thủ công mang đậm dấu ấn tài năng nghệ thuật sáng tạo của người nghệ nhân được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Do tính chất của các nguồn nguyên liệu tạo cốt gốm và việc tạo dáng đều làm bằng tay trên bàn xoay, cùng với việc sử dụng các loại men khai thác trong nước theo kinh nghiệm nên đồ gốm Bát Tràng có nét đặc trưng rất riêng là cốt đầy, chắc và khá nặng, lớp men trắng thường ngả mầu ngà, đục.

Ghé thăm làng Vạn Phúc – cái nôi lụa gấm của Việt Nam – giữa lòng thủ đô Hà Nội

Ghé thăm Hà Nội phồn hoa đô thị, hãy du lịch làng lụa Vạn Phúc – nơi điểm xuyết tinh hoa văn hóa Việt còn đang được gìn giữ, vốn đã rất nổi tiếng và đã đi vào thơ ca nhạc họa. Nổi tiếng khắp cõi xưa nay về lụa, chẳng ai không biết đến lụa Vạn Phúc trứ danh từng được đánh giá là sản phẩm thủ công tinh xảo nhất xứ Đông Dương.

Những vùng tơ lụa nổi tiếng Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), Nha Xá, Cổ Chất ở miền Bắc đến Hội An, Mã Châu ở miền Trung vào đến đất cao nguyên có lụa Bảo Lộc (Lâm Đồng) sang miền sông nước An Giang nổi danh với vùng Tân Châu, lụa Việt theo năm tháng đã đi vào huyền thoại. Người Bắc Kỳ vẫn luôn tự hào khi lụa Vạn Phúc lần đầu tham gia hội chợ quốc tế Marseille từ những năm 1931. Là một làng nghề truyền thống thế nên Vạn Phúc vẫn lưu giữ được những nét đặc trưng vốn có của vùng quê Việt Nam ngay giữa thành phố đang phát triển, quá trình đô thị hóa ngày càng rõ ràng.

Làng lụa Vạn Phúc “trứ danh”

Làng Lụa Vạn Phúc (hay có tên gọi khác là làng lụa Hà Đông) thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội hơn 10 km. Nếu bạn di chuyển bằng xe máy thì tuyến đường dễ đi: trung tâm thành phố – Nguyễn Trãi – Lê Văn Lương – Tố Hữu.

Nơi có sản phẩm tinh xảo nhất xứ Đông Dương

Được coi là biểu tượng của đất Hà Đông, thế nên cổng làng chào đón du khách thập phương đến với Vạn Phúc nổi bật ngay trên trục đường Tố Hữu, dễ dàng nhận diện. Cổng làng được xây theo kiến trúc giản đơn bằng gạch đỏ nhưng vẫn kiên cố, vững chãi. Từ xa xưa, cổng làng được coi như tấm chắn bảo vệ sự an lành cho người dân, là chốn đón đưa những người con trở về với cội nguồn.

Cổng làng lụa
Mái nhà cổ kính

Để tạo ra một tấm lụa tơ tằm truyền thống, các nghệ nhân phải trải qua rất nhiều công đoạn cũng như thời gian và công sức. Các bước thực hiện mới chỉ nghe thì khá đơn giản, thế nhưng để thực hiện một cách thành thạo cũng như tạo ra sản phẩm chất lượng thì những người thợ phải dành rất nhiều tâm huyết: kéo kén, guồng tơ, mắc cửi, nối cửi, dệt tơ, nhuộm tơ. Ở bất kì công đoạn nào người nghệ nhân cũng phải hết sức cẩn thận, túc trực theo dõi 24/24 ngay cả khi công đoạn máy móc thực hiện.

Máy dệt
Kén tằm
Sợi chỉ đầy màu sắc

Đối với người dân Vạn Phúc “mỗi dải lụa là kết quả của quá trình trồng dâu nuôi tằm kéo kén, ươm tơ cho đến lúc dệt, là kết tinh của trời – đất, thắm đượm công sức, tài hoa của những nghệ nhân, là sản phẩm quý giá của quê hương; tặng sản vật quý nhất của làng cho các bậc cao niên đáng kính, đáng trọng còn có ý nghĩa nào bằng. Sắc thái văn hoá nghề nghiệp ở làng dệt Vạn Phúc thấm sâu trong tình cảm, trong lối ứng xử của con người Việt Nam”.

Từng công đoạn được làm rất tâm huyết

Tham quan công trình làm lụa.

Cỗ máy trưng bày
“Gánh” lụa Vạn Phúc

Chợ lụa Vạn Phúc là nơi giới thiệu, quảng bá và bán các sản phẩm đến du khách. Mỗi một cửa hàng lại có cách bài trí riêng, thế nhưng điểm chung tại khu chợ này đó là màu sắc luôn rực rỡ, tươi mới, các mẫu mã sản phẩm từ khăn, áo, quần, áo dài, cũng như rất nhiều sản phẩm trang trí được làm từ lụa.

Đường vào chợ
Các sản phẩm bắt mắt

Ngày xưa lụa chỉ may được áo cánh, áo sơ mi thì bây giờ lụa đã được dùng để may vest, các bộ váy hiện đại, hợp thời… Chất liệu chính vẫn là tơ tằm nhưng để phong phú hơn thì người thợ kết hợp với nhiều chất liệu vải khác để cho ra các dòng sản phẩm mới, có sức cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường. Sáng tạo thêm kiểu mẫu khác như khăn quàng, túi, chăn… với đa dạng mẫu mã, khách muốn mua gì là mình có cái đó.

Các sản phẩm về lụa rất phong phú
Con đường tơ lụa

Top 25 làng nghề truyền thống nổi tiếng nhất Việt Nam

Làng nghề truyền thống của Việt Nam hiện nay đang có xu hướng bị mai một, những giá trị truyền thống có nguy cơ bị mất đi. Chính vì vậy, mỗi chúng ta cần có trách nhiệm gìn giữ những giá trị do ông cha ta để lại. Ở Việt Nam thì có nhiều làng nghề trong đó nổi bật nhất là các làng nghề như gốm sứ, ranh, lụa,… Chúng ta cùng tìm hiểu một số làng nghề nổi tiếng qua danh sách sau đây.

1.     Làng gốm Bát Tràng

Làng gốm Bát Tràng nay thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Làng gốm có bề dày lịch sử hơn 500 năm, qua các thế hệ tiếp nối. Đến ngày nay làng gốm sứ Bát Tràng nổi tiếng cả trong và ngoài nước. Tại đây các dòng họ vẫn giữ được chất nghề do cha ông truyền lại, khiến các sản phẩm đều có nét đặc trưng và tinh xảo riêng. Sản phẩm gốm sứ cũng từ đó được biết đến xa gần, xuất khẩu đi nhiều nơi trên thế giới.

Với lịch sử lâu đời, cùng với sự đa dạng về các sản phẩm gốm sứ thì hiện nay làng gốm sứ Bát Tràng hiện đang thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước tham quan, tìm hiểu cả về lịch sử cũng như quá trình sản xuất gốm sứ Bát Tràng.

Đến với làng gốm Bát Tràng, các bạn có thể tham quan làng gốm, tham gia làm gốm do các nghệ nhân hướng dẫn và ăn các món ăn truyền thống. Nếu bạn yêu thích lịch sử văn hóa dân tộc thì đây là một điểm du lịch rất nên đến.

Những sản phẩm được bày bán tại Làng gốm Bát Tràng
Những sản phẩm được bày bán tại Làng gốm Bát Tràng
Khuôn viên làng gốm Bát Tràng
Khuôn viên làng gốm Bát Tràng

2.     Làng tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Đông Hồ là các tên không hề xa lạ đối với mỗi con người Việt Nam, làng tranh này có lịch sử lâu đời hiện nay nằm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Nét đặc trưng của tranh dân gian Đông Hồ nằm ở bố cục tranh, giấy in, màu sắc hài hòa và mang nét đặc trưng riêng. Người làng Hồ đã biết vận dụng, chắt lọc từ những chất liệu thiên nhiên để tạo nên những sắc màu truyền thống vừa tươi vừa có độ bền màu, như màu xanh chiếc ra từ gỉ đồng, màu chàm của cây chàm hay màu đỏ thắm từ cây vàng.

Tranh Đông Hồ được bày bán nhiều nhất vào dịp Tết Nguyên Đán. Những ngày cận Tết, khách thập phương tụ hội về chợ tranh để mua tranh rất nhộn nhịp. Đây cũng là một trong những điểm thu hút khách du lịch cả trong và ngoài nước của vùng đất Bắc Ninh.

Làng tranh dân gian Đông Hồ
Làng tranh dân gian Đông Hồ
Tranh Đông Hồ được bày bán nhiều nhất vào dịp Tết Nguyên Đán
Tranh Đông Hồ được bày bán nhiều nhất vào dịp Tết Nguyên Đán

3.     Làng lụa Hà Đông

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”
Lụa Hà Đông
 hay còn gọi là lụa Vạn Phúc là làng nghề dệt lụa tơ tằm lâu đời có lịch sử ngàn năm. Lụa Vạn Phúc có những mẫu hoa văn lâu đời nhất Việt Nam.

Ngày xưa, lụa Vạn Phúc được sử dụng nhiều trong cung đình nhờ chất lượng tốt và hoa văn đẹp. Hiện nay, có đến 800 hộ gia đình làm nghề, trong những gia đình đó người ta vẫn giữ lại những khung dệt cổ và những khung cơ khí hiện đại, điều này cho thấy người dân vẫn giữ những nét truyền thống vừa đầu tư phát triển làng nghề trong xu thế hội nhập.

Mặt hàng dệt tơ lụa Vạn Phúc có nhiều loại: lụa, là, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, bằng, quế, đoạn, sa, kỳ, cầu, đũi. Với thương hiệu nổi tiếng và nghề truyền thống lâu đời, một chuyến du lịch làng lụa Vạn Phúc hứa hẹn sẽ mang lại nhiều điều thú vị. Đến đây, du khách vừa có dịp mua sắm các sản phẩm lụa chính hiệu, vừa được dịp quan sát quy trình làm ra tấm lụa của các nghệ nhân tài hoa.

Mặt hàng dệt tơ lụa Vạn Phúc
Mặt hàng dệt tơ lụa Vạn Phúc
Lụa Hà Đông

4.     Làng trống Đọi Tam

Khi nhắc đến nghề làm trống, chúng ta đều nhắc đến một làng nghề trống truyền thống Đọi Tam – Duy Tiên – Hà Nam.

Làng trống Đọi Tam đã quá nổi tiếng bởi lịch sử 1000 năm làm trống với bao thợ cả nổi tiếng khắp vùng. Nghề làm trống ở Đọi Tam là nghề cha truyền con nối, thế hệ này tiếp nối thế hệ kia để gìn giữ và phát triển nghề làm trống, ở đây người ta làm đủ làm đủ các loại trống, mỗi năm làm ra đến hàng nghìn chiếc trống các loại. Trống Đọi Tam nổi tiếng nhờ độ bền, đẹp, tròn,… đó là nhờ bí quyết riêng của làng nghề cùng tâm huyết của người làm trống.

Làng trống Đọi Tam đã được công nhận là làng nghề truyền thống tiêu biểu của toàn quốc, sản phẩm trống Đọi Tam đã xuất bán qua các nước châu Âu, điều này chứng tỏ giá trị của các sản phẩm trống Đọi Tam.

Làng trống Đọi Tam
Làng trống Đọi Tam đã được công nhận là làng nghề truyền thống tiêu biểu của toàn quốc
Làng trống Đọi Tam đã được công nhận là làng nghề truyền thống tiêu biểu của toàn quốc

5.     Làng đá mỹ nghệ Non Nước

Làng đá mỹ nghệ Non Nước đã rất nổi tiếng cả trong và ngoài nước về các sản phẩm đồ mỹ nghệ bằng đá cẩm thạch.

Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Mỗi khi dừng chân ở Ngũ Hành Sơn thì ai ai cũng ghé thăm làng nghề và chọn mua những sản phẩm về làm quà tặng. Về lịch sử làng được hình thành vào thế kỷ 18 do nghệ nhân người Thanh Hóa tên Huỳnh Bá Quát khai phá.

Nguyên liệu để làm ra các sản phẩm mỹ nghệ là đá cẩm thạch trước đây được khai thác ở núi Ngũ Hành Sơn. Đá núi Ngũ Hành Sơn nhiều vân ngũ sắc, vẻ đẹp cao sang, là mặt hàng được ưa chuộng trong xây dựng và kiến trúc. Từ đất đá vô cảm, người nghệ nhân làng đá mỹ nghệ đã thổi vào đó tâm hồn của con người để tạo ra những sản phẩm tinh xảo.

Tham quan làng đá, bạn sẽ được chiêm ngưỡng các tác phẩm nghệ thuật được chế tác từ đá, mỗi tác phẩm đều thể hiện nét tài hoa, tinh tế của các nghệ nhân cùng với đó thấy sự đa dạng của các loại sản phẩm, từ những pho tượng phật, tượng người, tượng các danh nhân Việt Nam,… Tất cả đều được chạm trổ hoa văn rất tỉ mỉ và rất tinh xảo. Vì vậy đây là một điểm đến hứa hẹn nhiều điều thú vị cho khách du lịch.

Làng đá mỹ nghệ Non Nước
Làng đá mỹ nghệ Non Nước
Các tác phẩm nghệ thuật được chế tác từ đá
Các tác phẩm nghệ thuật được chế tác từ đá

Top 25 làng nghề truyền thống nổi tiếng nhất Việt Nam

Làng nghề truyền thống của Việt Nam hiện nay đang có xu hướng bị mai một, những giá trị truyền thống có nguy cơ bị mất đi. Chính vì vậy, mỗi chúng ta cần có trách nhiệm gìn giữ những giá trị do ông cha ta để lại. Ở Việt Nam thì có nhiều làng nghề trong đó nổi bật nhất là các làng nghề như gốm sứ, ranh, lụa,… Chúng ta cùng tìm hiểu một số làng nghề nổi tiếng qua danh sách sau đây.

1.      Làng gốm Bát Tràng

Làng gốm Bát Tràng nay thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Làng gốm có bề dày lịch sử hơn 500 năm, qua các thế hệ tiếp nối. Đến ngày nay làng gốm sứ Bát Tràng nổi tiếng cả trong và ngoài nước. Tại đây các dòng họ vẫn giữ được chất nghề do cha ông truyền lại, khiến các sản phẩm đều có nét đặc trưng và tinh xảo riêng. Sản phẩm gốm sứ cũng từ đó được biết đến xa gần, xuất khẩu đi nhiều nơi trên thế giới.

 

Với lịch sử lâu đời, cùng với sự đa dạng về các sản phẩm gốm sứ thì hiện nay làng gốm sứ Bát Tràng hiện đang thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước tham quan, tìm hiểu cả về lịch sử cũng như quá trình sản xuất gốm sứ Bát Tràng.

 

Đến với làng gốm Bát Tràng, các bạn có thể tham quan làng gốm, tham gia làm gốm do các nghệ nhân hướng dẫn và ăn các món ăn truyền thống. Nếu bạn yêu thích lịch sử văn hóa dân tộc thì đây là một điểm du lịch rất nên đến.

 

Những sản phẩm được bày bán tại Làng gốm Bát Tràng

Khuôn viên làng gốm Bát Tràng

2.      Làng tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Đông Hồ là các tên không hề xa lạ đối với mỗi con người Việt Nam, làng tranh này có lịch sử lâu đời hiện nay nằm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Nét đặc trưng của tranh dân gian Đông Hồ nằm ở bố cục tranh, giấy in, màu sắc hài hòa và mang nét đặc trưng riêng. Người làng Hồ đã biết vận dụng, chắt lọc từ những chất liệu thiên nhiên để tạo nên những sắc màu truyền thống vừa tươi vừa có độ bền màu, như màu xanh chiếc ra từ gỉ đồng, màu chàm của cây chàm hay màu đỏ thắm từ cây vàng.

 

Tranh Đông Hồ được bày bán nhiều nhất vào dịp Tết Nguyên Đán. Những ngày cận Tết, khách thập phương tụ hội về chợ tranh để mua tranh rất nhộn nhịp. Đây cũng là một trong những điểm thu hút khách du lịch cả trong và ngoài nước của vùng đất Bắc Ninh.

 

Làng tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Đông Hồ được bày bán nhiều nhất vào dịp Tết Nguyên Đán

3.      Làng lụa Hà Đông

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”
Lụa Hà Đông
 hay còn gọi là lụa Vạn Phúc là làng nghề dệt lụa tơ tằm lâu đời có lịch sử ngàn năm. Lụa Vạn Phúc có những mẫu hoa văn lâu đời nhất Việt Nam.

 

Ngày xưa, lụa Vạn Phúc được sử dụng nhiều trong cung đình nhờ chất lượng tốt và hoa văn đẹp. Hiện nay, có đến 800 hộ gia đình làm nghề, trong những gia đình đó người ta vẫn giữ lại những khung dệt cổ và những khung cơ khí hiện đại, điều này cho thấy người dân vẫn giữ những nét truyền thống vừa đầu tư phát triển làng nghề trong xu thế hội nhập.

 

Mặt hàng dệt tơ lụa Vạn Phúc có nhiều loại: lụa, là, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, bằng, quế, đoạn, sa, kỳ, cầu, đũi. Với thương hiệu nổi tiếng và nghề truyền thống lâu đời, một chuyến du lịch làng lụa Vạn Phúc hứa hẹn sẽ mang lại nhiều điều thú vị. Đến đây, du khách vừa có dịp mua sắm các sản phẩm lụa chính hiệu, vừa được dịp quan sát quy trình làm ra tấm lụa của các nghệ nhân tài hoa.

Mặt hàng dệt tơ lụa Vạn Phúc

4.      Làng trống Đọi Tam

Khi nhắc đến nghề làm trống, chúng ta đều nhắc đến một làng nghề trống truyền thống Đọi Tam – Duy Tiên – Hà Nam.

 

Làng trống Đọi Tam đã quá nổi tiếng bởi lịch sử 1000 năm làm trống với bao thợ cả nổi tiếng khắp vùng. Nghề làm trống ở Đọi Tam là nghề cha truyền con nối, thế hệ này tiếp nối thế hệ kia để gìn giữ và phát triển nghề làm trống, ở đây người ta làm đủ làm đủ các loại trống, mỗi năm làm ra đến hàng nghìn chiếc trống các loại. Trống Đọi Tam nổi tiếng nhờ độ bền, đẹp, tròn,… đó là nhờ bí quyết riêng của làng nghề cùng tâm huyết của người làm trống.

 

Làng trống Đọi Tam đã được công nhận là làng nghề truyền thống tiêu biểu của toàn quốc, sản phẩm trống Đọi Tam đã xuất bán qua các nước châu Âu, điều này chứng tỏ giá trị của các sản phẩm trống Đọi Tam.

Làng trống Đọi Tam đã được công nhận là làng nghề truyền thống tiêu biểu của toàn quốc

5.      Làng đá mỹ nghệ Non Nước

Làng đá mỹ nghệ Non Nước đã rất nổi tiếng cả trong và ngoài nước về các sản phẩm đồ mỹ nghệ bằng đá cẩm thạch.

 

Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Mỗi khi dừng chân ở Ngũ Hành Sơn thì ai ai cũng ghé thăm làng nghề và chọn mua những sản phẩm về làm quà tặng. Về lịch sử làng được hình thành vào thế kỷ 18 do nghệ nhân người Thanh Hóa tên Huỳnh Bá Quát khai phá.

 

Nguyên liệu để làm ra các sản phẩm mỹ nghệ là đá cẩm thạch trước đây được khai thác ở núi Ngũ Hành Sơn. Đá núi Ngũ Hành Sơn nhiều vân ngũ sắc, vẻ đẹp cao sang, là mặt hàng được ưa chuộng trong xây dựng và kiến trúc. Từ đất đá vô cảm, người nghệ nhân làng đá mỹ nghệ đã thổi vào đó tâm hồn của con người để tạo ra những sản phẩm tinh xảo.

 

Tham quan làng đá, bạn sẽ được chiêm ngưỡng các tác phẩm nghệ thuật được chế tác từ đá, mỗi tác phẩm đều thể hiện nét tài hoa, tinh tế của các nghệ nhân cùng với đó thấy sự đa dạng của các loại sản phẩm, từ những pho tượng phật, tượng người, tượng các danh nhân Việt Nam,… Tất cả đều được chạm trổ hoa văn rất tỉ mỉ và rất tinh xảo. Vì vậy đây là một điểm đến hứa hẹn nhiều điều thú vị cho khách du lịch.

Làng đá mỹ nghệ Non Nước

Các tác phẩm nghệ thuật được chế tác từ đá